Sao chổi 46P/Wirtanen giải phóng lượng rượu cao khá bất thường khi bay qua gần Trái Đất cách đây khoảng hai năm rưỡi. Sao chổi mang lại một lượng nhiệt bí ẩn và nồng độ cồn cao khác thường. Các nhà nghiên cứu sao chổi phát hiện ra điều này. Theo nhiều nghiên cứu, coma của 46P/Wirtanen cho thấy nồng độ cồn trên aldehyde ở mức cao nhất từng được ghi nhận ở sao chổi. Sau khi quan sát sao chổi cực sáng tên 46P/Wirtanen từ Đài quan sát W.M.Keck ở Maunakea, Hawaii, Mỹ. Kết quả của cuộc phát hiện đã được công bố trên tạp chí Khoa học Hành tinh.

Phát hiện lượng cồn cực cao ở sao chổi 46P/Wirtanen

Phát hiện lượng cồn cực cao ở sao chổi 46P/Wirtanen

Các nhà khoa học phát hiện lượng cồn cực cao ở sao chổi 46P/Wirtanen; cũng như một nguồn nhiệt bí ẩn làm nóng sao chổi này. Thông qua quan sát bằng Đài thiên văn W. M. Keck ở Maunakea, Hawaiʻi; “46P/Wirtanen có tỷ lệ rượu so với aldehyde cao nhất đo được ở bất kỳ sao chổi nào từ trước tới nay”. Neil Dello Russon, nhà khoa học sao chổi ở Phòng thí nghiệm Vật lý ứng dụng tại Đại học Johns Hopkins, đồng tác giả nghiên cứu, cho biết: “Điều này cung cấp cho chúng tôi thông tin về cách các phân tử carbon, oxy và hydro phân bố trong hệ Mặt Trời thuở sơ khai; khi Wirtanen hình thành.”

Dữ liệu từ Đài thiên văn Keck cũng hé lộ một đặc điểm kỳ lạ. Thông thường, khi quỹ đạo sao chổi ở gần Mặt Trời hơn; các hạt đóng băng trong nhân của chúng bị nóng lên. Sau đó thăng hoa, chuyển trực tiếp từ dạng băng cứng sang dạng khí, bỏ qua giai đoạn hóa lỏng. Quá trình mang tên nhả khí này chính là hoạt động sản sinh đầu sao chổi (coma), lớp khí; và bụi khổng lồ phát sáng bao quanh nhân của sao chổi.

Trong chuyến du ngoạn của mình; mỗi khi tiến đủ gần Mặt Trời và nóng lên. Các hạt đá của 46P/Wirtanen bắt đầu thăng hoa và tạo ta coma. Quần coma này chỉ xuất hiện 10-20 phút trong mỗi vòng quay; tiết lộ thành phần gồm axetylen, amoniac, etan, formaldehyde, hydro xyanua, metanol và nước. Coma chính là một vỏ bọc mờ, trông như vầng hào quang bao quanh nhân sao chổi. Được hình thành khi sao chổi đến gần mặt trời, ấm lên và thăng hoa. Coma theo tiếng Hy Lạp là “tóc”, nên còn được gọi là “đầu sao chổi”.

Quá trình bí ẩn khác cũng làm sao chổi nóng lên

Quá trình bí ẩn khác cũng làm sao chổi nóng lên

Khi sao chổi tới gần Mặt Trời hơn; bức xạ Mặt Trời đẩy một phần đầu sao chổi ra xa, tạo thành vệt đuôi. Tuy nhiên, với 46P/Wirtanen, nhóm nghiên cứu phát hiện ngoài bức xạ. Một quá trình bí ẩn khác cũng làm sao chổi nóng lên. Họ nhận thấy nhiệt độ đo được với khí gas chứa nước ở đầu sao chổi không giảm đáng kể so với khoảng cách từ nhân. Chứng tỏ có một cơ chế làm nóng, theo giáo sư Erika Gibb, trưởng Khoa vật lý và Thiên văn học ở Đại học Missouri – St. Louis; đồng tác giả nghiên cứu.

Gibb cho biết hai khả năng có thể xảy ra. Một là phản ứng hóa học trong đó ánh sáng Mặt Trời có thể ion hóa một số nguyên tử hoặc phân tử ở đầu sao chổi gần với nhân. Giải phóng electron tốc độ cao. Khi eletron va chạm với phân tử khác; chúng có thể truyền một phần động lượng và làm nóng khí gas chứa nước ở đầu sao chổi.

Khả năng khác là có khối băng cứng bắn ra từ 46P/Wirtanen. Các nhà nghiên cứu từng bắt gặp điều này ở vài sao chổi mà tàu vũ trụ từng ghé thăm như Hartley 2 trong nhiệm vụ EPOXI của NASA. Những khối băng đó văng ra từ nhân và thăng hoa, giải phóng năng lượng.

Giải phóng nhiều nước hơn dự đoán

Giả thuyết trên rất phù hợp với quan sát về các sao chổi hoạt động mạnh như 46P/Wirtanen. Lớp sao chổi giải phóng nhiều nước hơn dự đoán; nếu nhả tất cả khí trực tiếp từ hạt nhân đóng băng khi đến gần Mặt Trời. Nước phun ra ở dạng khí nhưng có thể ngưng tụ. Sau đó thành dạng lỏng nếu tiếp xúc với bề mặt hành tinh. Đó là lý do các nhà khoa học nghi ngờ sao chổi cũng như tiểu hành tinh có thể mang nước tới Trái Đất.

Dữ liệu của Đài thiên văn Keck cho thấy sao chổi Wirtanen giải phóng tương đối nhiều phân tử nước từ phần đầu. Sau khi thăng hoa so với phân tử khác như ethane, hydrogen cyanide, và acetylene. Điều này chứng tỏ lượng nước đó đến từ hạt băng ở sâu bên trong đầu sao chổi. Kết quả nghiên cứu được công bố chi tiết trên tạp chí Planetary Science.

Truy cập vào trang xellaser.com để xem nhiều bài viết hữu ích nhé các bạn độc giả.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *